Category: Tin kết cấu

Quy trình kỹ thuật thi công cầu thang bê tông cốt thép

Cầu thang là phương tiện giao thông theo chiều đứng, có tác dụng liên kết giữa các tầng trong tòa nhà. Với ưu điểm về độ bền lâu, chắc chắn, chịu lửa tốt, cầu thang bê tông cốt thép là một trong những loại cầu thang được sử dụng rộng rãi trong các mô hình nhà dân dụng và nhà công nghiệp. Kỹ thuật thi công mô hình cầu thang bê tông cũng khá đơn giản và dễ dàng. Hôm nay, chúng tôi xin chia sẽ với bạn đọc các bước thi công cầu thang bê tông cốt thép để các bạn hiểu rõ hơn những quy tắc và cách thi công cho chính mô hình cầu thang nhà mình nhé.

Cầu thang bê tông cốt thép có 2 loại là toàn khối và lắp ghép.

Cầu thang bê tông cốt thép toàn khối có độ cứng và ổn định cao, không bị hạn chế bởi các tiêu chuẩn hóa, hình thức đa dạng, thỏa mãn yêu cầu thẩm mỹ của kiến trúc. Tuy nhiên, cầu thang bê tông cốt thép thường tốn nhiều cốp pha và quá trình thi công đưa vào sử dụng chậm.

Cầu thang bê tông cốt thép lắp ghép là loại cầu thang sử dụng các cấu kiện được chế tạo sẵn tại công trường, sau khi đảm bảo các yếu tố chịu lực thì đưa vào lắp ghép theo vị trí đã được thiết kế sẵn. Cầu thang bê tông cốt thép lắp ghép có tốc độ thi công nhanh, đáp ứng được các yêu cầu công nghiệp hóa trong xây dựng, tiết kiệm ván khuôn và nâng cao chất lượng sản phẩm.

QUY TRÌNH THI CÔNG:

1. Đổ bê tông bản thang

1.1 – Gia công lắp dựng ván khuôn cầu thang:
Gia công lắp dựng ván khuôn là bước căn bản trong công tác thi công cầu thang bê tông cốt thép. Ván khuôn được lắp dựng để định hình cầu thang. Công tác lắp dựng ván khuôn cần đảm bảo theo đúng quy trình và các yêu cầu kĩ thuật an toàn cho người tham gia thi công.

1.2 – Gia công lắp dựng cốt thép cầu thang
Cốt thép cầu thang được định hình sẵn theo kết cấu của cầu thang, đảm bảo về chiều dài và rộng của mặt sàn thang. Lắp dựng cốt thép cầu thang tránh bị tuột mối nối, tránh cong vênh. Cốt thép phải đảm bảo đúng quy cách chất lượng, đúng yêu cầu về loại thép sử dụng cho quá trình thi công.

Cốt thép đặt phía dưới theo ô lưới: chiều ngang đặt Ø6-8 trên 1m dài, chiều dọc đặt Ø6-8 cách nhau a= 200mm. Các cốt thép ngang nên bẻ lên quá dầm thang để sau này hàn với lan can. Để chống momen có thể làm thân thang xoay tự do, phải bẻ cốt thép ngang lên phía trên bản thân thang. Bản thân thang phải cắm vào tường >100mm.

1.3 – Đổ bê tông cầu thang
Để tiến hành đổ bê tông cầu thang, người ta cần xác định được độ dốc hợp lý của bản cốt thép trước khi ghép cốp pha, đặt cốt thép. Có thể tiến hành bằng cách vạch lên tường thang các vị trí của bậc cầu thang. Trường hợp cầu thang không nằm cạnh tường, cần căng dây xác định trên bức tường gần nhất ngang với mặt bậc. Khi đổ bê tông cần lưu ý dùng tấm chắ định hướng để tránh vữa bê tông rơi xuống đáy dốc.

Độ sụt bê tông thường từ 10-13cm.

2. Thi công sàn thang
Sàn thang được thi công sau khi đã đổ xong phần bê tông mặt sàn. Tùy vào tiến độ thi công mà nhà thầu có thể lựa chọn thời gian để thi công sàn thang. Với các công trình nhiều tầng, có thể thi công các mặt sàn xong sau đó mới tiến hành thi công tới cầu thang bộ.

Thi công bậc cầu thang:
Bậc thang được thi công đổ theo khuôn ván bê tông mặt sàn cầu thang.

Cấu tạo bể nước mái trong công trình nhà ở dân dụng

Bể nước mái có thể được xây dựng trên nhiều công trình nhà ở dân dụng. Đặc biệt trong nhiều thiết kế nhà cao tầng, hoặc nhà thấp tầng thường đặt bể nước ( hoặc téc nước) ở trên mái.

Cấu tạo bể nước mái có thể được làm bằng gạch, làm bằng inox hoặc làm bằng nhựa.

Bể nước xây bằng gạch kết hợp bê tông thì yêu cầu với bể phải bền, chắc, không bị rò rỉ, đáy bể phải đặt cách mặt gạch lá nem trên mái ít nhất là 100mm ở điểm gần nhất. Loại gạch lá nem được sử dụng là loại gạch hình vuông mỏng, màu đỏ, kích thước 30x30cm.

Nắp bể tấm bản bê tông cốt thép lắp cho bể nước mái. Hệ thống ống trần, ống tháo và ống nước vào được đặt theo đúng như tiêu chuẩn thiết kế.

Mặt bể và bên ngoài thành bể trái vữa xi măng mác 50 dày 15, trong lòng bể trát vữa xi măng mác 80 dày 25, trát làm hai lần, lần 1 trát dày 15 có khía bay, lần 2 trát dày 10 rồi đánh màu nhẵn bằng xi măng. Trước khi trát phải ngâm nước xi măng chống rò rỉ. Trong 1 ngày khuấy 4 đến 6 lần., ngâm đến khi nào hết rò rỉ mới thôi.(ít nhất là 7 -10 ngày).

Panen là một loại sàn có kết cấu đơn giản, được lắp ghép bởi dầm chịu lực và những viên block sàn rỗng được đúc sẵn có trong lượng thấp nên không cần hoặc chỉ sử dụng rất ít cốt pha hay cột chống trong quá trình thi công. Thời gian thi công sàn nhanh, mặt bằng thi công gọn, sạch, hạn chế tối đa việc dùng các vật liệu rời nên tránh được bụi và ô nhiễm môi trường, chi phí giảm nhiều so với sàn đổ bê tông tại chỗ do không cần phải sử dụng cốt pha hay dàn giáo khi thi công. Đặc biệt sàn mái có thể sử dụng ngay sau khi thi công và có thể tiếp tục lên tầng ngay sau khi đổ sàn.

Sau lớp sàn panen là bản bê tông chống thấm. Sau đó lát một lớp gạch lá nem. Sau đó là kê hai lớp gạch có lỗ, cuối cùng là bản bê tông cốt thép có lỗ chống nhiệt.

Hiện nay, phương pháp xây bể nước trên mái ít được áp dụng, bởi sự xuất hiện của các téc nước, bồn nước inox,… được sản xuất đại trà và phù hợp hơn trong cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, việc thiết kế cấu tạo bể nước mái vẫn được áp dụng rộng rãi trong nhiều tòa nhà cao tầng, trong một số các công trình nhà ở xây dựng ở nông thôn, đặc biệt là các thiết kế nhà bếp.

Chi tiết cấu tạo sàn gỗ ngoài trời trong công trình

Sàn gỗ ngoài trời được làm từ nguyên liệu chính đó là nhựa gỗ hay còn gọi là WPC. So với truyền thống sử dụng gỗ tự nhiên trong ứng dụng làm vật liệu xây dựng thì nhựa gỗ hiện nay vẫn còn là một loại vật liệu rất mới mẻ, nhưng nó có thể thay thế gỗ trong hầu hết trường hợp không chịu lực.
Cấu tạo thành phần:

Chi tiết cấu tạo sàn gỗ ngoài trời được hình thành từ hơn 50% sơ gỗ: như mạt cưa, sợi bột giấy, vỏ đậu phộng, tre, nứa, trấu…và gần 30% sợi nhựa (có thể sử dụng nhựa HDPE, PVC, PP…) Cuối cùng là kèm theo một số chất phụ gia, chất kết dính và chất tạo màu.

Phân loại sàn gỗ ngoài trời:

Sàn gỗ ngoài trời có các loại như: sàn gỗ ngoài trời đặc và sàn gỗ ngoài trời rỗng

• Sàn gỗ ngoài trời đặc: là loại đặc nguyên thanh có kích thước 140 x 20 2200mm.
• Sàn gỗ ngoài trời rỗng: là loại thanh ván gỗ có lõi rỗng, vỡi kích thước 140 x 30 x 2200 mm.

Chiếm một vị trí quan trọng trong thế giới vật liệu ốp lát, sàn gỗ ngày càng đa dạng và phong phú về chất lượng, màu sắc để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng. Với sự khác nhau về đặc điểm chi tiết cấu tạo sàn gỗ và kết cấu chịu lực,chắc chắn chúng ta sẽ biết được nên sử dụng loại sàn gỗ nào hay loại vật liệu nào cho các công trình.

7 điểm lưu ý khi thiết kế cột bê tông cốt thép

Tỷ lệ cốt thép tối đa và tối thiểu

Tỷ lệ cốt thép tối thiểu 1% sẽ được sử dụng trong các cột. Sự gia cố tối thiểu này là cần thiết để bảo vệ chống lại bất kỳ sự uốn cong nào, làm giảm hiệu ứng co ngót và tăng cường độ dẻo của các cột.

Số lượng thanh cốt thép tối thiểu

Tối thiểu bốn thanh trong phần hình chữ nhật hoặc hình tròn; hoặc một thanh ở mỗi góc của mặt cắt ngang cho các hình dạng khác và tối thiểu sáu thanh trong các cột được gia cố xoắn.

Khoảng cách giữa các thanh cốt thép

Đối với các cột khoảng cách giữa các thanh không được nhỏ hơn lớn hơn 150 lần đường kính thanh hoặc 4 cm.

Vỏ bảo vệ bê tông

Lớp phủ bê tông không được nhỏ hơn 4 cm đối với các cột không tiếp xúc với thời tiết hoặc tiếp xúc với mặt đất. Nó là điều cần thiết để bảo vệ cốt thép khỏi nguy cơ ăn mòn hoặc hỏa hoạn.

Kích thước mặt cắt ngang tối thiểu

Để xem xét thực tế, kích thước cột có thể được lấy là bội số của 5 cm.

Thép đai

Thép đai có hiệu quả trong việc hạn chế các thanh dọc không bị vênh qua bề mặt cột, giữ lồng cốt thép với nhau trong quá trình xây dựng, giam giữ lõi bê tông và khi các cột chịu lực ngang, chúng đóng vai trò là cốt thép cắt.

Kẽm buộc

Đối với các thanh dọc, 32 mm hoặc nhỏ hơn, nên sử dụng dây buộc có đường kính 10 mm.

Tìm hiểu các loại cọc trong xây dựng dân dụng và công trình

Tìm hiểu các loại cọc trong xây dựng dân dụng và công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp

Cọc chịu lực là gì

Loại móng cọc này chủ yếu được sử dụng để chuyển tải trọng thẳng đứng từ kết cấu sang đất. Những nền móng này truyền tải trọng qua đất với đặc tính hỗ trợ kém lên một lớp có khả năng chịu tải. Tùy thuộc vào cơ chế truyền tải từ cọc sang đất, cọc chịu tải có thể được phân loại thêm.

Cọc kết thúc

Trong loại cọc này, tải trọng đi qua mũi dưới của cọc. Phần dưới cùng của cọc nằm trên một lớp đất hoặc đá. Thông thường, cọc nằm ở lớp chuyển tiếp của một lớp đất yếu và mạnh. Do đó, cọc đóng vai trò là cột và chuyển tải một cách an toàn sang lớp mạnh.

Tổng công suất của cọc chịu lực cuối có thể được tính bằng cách tăng diện tích của đỉnh cọc và khả năng chịu lực ở độ sâu đặc biệt của đất mà tại vị trí cọc. Xem xét một yếu tố hợp lý của an toàn, đường kính của cọc được tính toán.

Cọc ma sát

Cọc ma sát chuyển tải trọng từ kết cấu xuống đất bằng lực ma sát giữa bề mặt cọc và đất xung quanh cọc như đất sét cứng, đất cát v.v … Ma sát có thể được phát triển cho toàn bộ chiều dài của cọc hoặc xác định chiều dài của cọc, tùy thuộc vào tầng của đất. Trong cọc ma sát, nói chung, toàn bộ bề mặt của cọc hoạt động để chuyển tải từ kết cấu sang đất.
Diện tích bề mặt của cọc nhân với lực ma sát an toàn được phát triển trên một đơn vị diện tích xác định công suất của cọc.

Trong khi thiết kế cọc ma sát da, ma sát da được phát triển ở bề mặt cọc cần được đánh giá một cách chính xác và cần xem xét đến yếu tố an toàn hợp lý. Bên cạnh đó người ta có thể tăng đường kính cọc, độ sâu, số lượng cọc và làm cho bề mặt cọc trở nên nhám để tăng khả năng của cọc ma sát.

Kết cấu chịu lực của ban công như thế nào?

Kết cấu chịu lực của ban công thường được cấu tạo cùng một loại vật liệu của kết cầu chịu lực của sàn như gỗ, thep, bê tông cốt thép. Hiện nay phổ biến ban công được làm bằng bê tông cốt thép toàn khối hoặc lắp ghép.

Tuỳ theo vị trí, yêu cầu sử dụng và vật liệu xây dựng mà cấu tạo sàn ban công theo 3 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Bản sàn được đỡ bởi côngxon, côngxon được liên kết ngầm với khối xây, với dầm hoặc giằng tường. Trường hợp này cần quan tâm chống lật cho bancông. Nhịp vươn ra của ban công không quá 1000.

Trường hợp 2: Bản sàn được đỡ bởi côngxon, côngxon được liên kết với khối xây hay khung sườn nhà. Tuỳ theo vật liệu mà côngxon đặt cách nhau khoảng 1000 -2000. Sàn ban công trong trường hợp này nhịp vươn ra của ban công sẽ tuỳ theo khả năng chịu lực của côngxon, khoảng 1000 – 1500, thường là 1200. Cốt thép chịu lực đặt lên phía trên, dọc theo ban công (nối với cốt thép 2 dầm) và phía dưới theo chiều rộng ban công.

Trường hợp 3: Bản sàn được đúc liền với côngxon, côngxon là kết cấu của phần sàn nhà kéo dài ra với các dầm một nhịp, có phần côngxon đưa ra khỏi mặt tường ngoài và một dầm biên kiêm đầu dầm, đồng thời chịu đỡ lan can. Sàn ban côngtrong trường hợp này nhịp vươn ra của ban công có thể theo yêu cầu sử dụng, nhưng không quá 1800. Kết cấu này thường áp dụng cho nhà khung chịu lực. Cốt thép chịu lực thường nằm ở phía dưới ban công và theo chiều rộng (ngang) là chính.

Hiện nay sàn ban công bê tông cốt thép phổ biến hơn cả và cấu tạo sàn ban công là yếu tố cần phải chú trọng vì nó liên quan đến sự bền vững của ban công, nếu như ban công thi công không đảm bảo kết cấu chịu lực sẽ vô cùng nguy hiểm cho người sử dụng vì độ cao của nó. Khi thi công cũng như thiết kế ban công phải cẩn trọng với cấu tạo sàn ban công để tránh những tai nạn bất ngờ xảy ra.

Cấu tạo mũ cọc bê tông cốt thép

Mũ cọc có vai trò rất quan trọng trong công tác thi công cọc đóng, vừa đảm bảo cho cọc không bị nứt, vỡ, mà còn giữ cho sabô của búa không bị hư hại. Thông thường các cơ sở sản xuất búa đều cung cấp đồng bộ cả giàn búa cùng loại mũ cọc tương ứng. Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta chưa chế tạo được dàn búa, có thể thay thế mũ cọc chế sằn bằng cách tự gia công bằng hàn.

Khi đóng cọc bằng búa hơi đơn động và búa điêzen kiểu ống nên dùng mũ cọc dạng chữ H đúc hoặc hàn có khoang trên và khoang dưới. Khi đóng cọc bằng búa điêzen kiểu cần và búa hơi song động có thể dùng mũ cọc dạng chữ U chỉ có mình khoang dưới.

Mũ cọc phải có lỗ tai hoặc vòng treo để ngoắc vào đầu búa trong tư thế thẳng đứng bằng cáp. Khoang trên thường có dạng hình tròn sâu 100 mm đến 150 mm cho búa hơi và 200 mm đến 300 mm cho búa điêzen. Khoang trên chứa giảm chấn để giảm tải trọng động lên búa cũng như lên chính mũ cọc. Ðường kính khoang trên thường rộng hơn đường kính sabô của búa khoảng 10 mm đến 15 mm hoặc không nhỏ hơn kích cỡ ngoài của búa hơi.

Giảm chấn trên thường được làm từ các loại gỗ cứng (sồi, thông, sến, táu, lát…) cắt dọc thớ, đặt vuông góc chuẩn với trục chính. Bề dày của tấm giảm chấn trên phụ thuộc vào trọng lượng phần đập của búa; với búa điêzen kiểu ống có trọng lượng phần đập là 1 250, 1 800, 2 500, 3 500, 5 000 kG thì chiều dày đệm không nhỏ hơn tương ứng là 150, 200, 200, 250, 300 mm; với búa hơi không nhỏ hơn 250 mm đến 300 mm.

Nghiêm cấm việc dùng tấm giảm chấn trên đã bị giập nát, có thể xảy ra nhát đập trực tiếp của búa vào mũ thép.

Kích cở khoang dưới của mũ cọc thường chỉ rộng hơn kích thước tiết diện cọc 1 cm. Chiều sâu khoang dưới khoảng 500 mm đến 600 mm. Tấm giảm chấn dưới có thể làm từ các vật liệu khác nhau .Bề dày của đệm dưới khi đóng cọc bê tông cốt thép phụ thuộc vào vật liệu đệm, tính nǎng kỹ thuật của búa, cọc, đặc điểm đất nền và xác định như tính toán.

 

Tại sao phải lắp đặt hệ thống thoát nước mưa trên mái nhà ?

Khi xây dựng thi công hệ thốg mái nhà đều sẽ chú ý và tính toán đến việc lắp đặt hệ thống thoát nước trên mái, kể cả mái dốc hay mái bằng. Hệ thống thoát nước được xây dựng ở bất kì công trình nào có mái vì rất nhiều nguyên nhân và nó vô cùng quan trọng, thường thì đó là một phận của cấu tạo hệ thống mái. Tại sao phải lắp đặt hệ thống thoát nước mưa trên mái ?

Thiết kế hệ thống thoát nước mưa trên mái nhà đơn giản cho kiểu mái dốc

Mái nhà là bộ phận có khả năng giáp với công trình bên cạnh nhất, nếu không làm hệ thống thoát nước mưa trên mái nhàrất có thể nước mưa chảy sang đất nhà kề bên giống như không khống chế được dòng chảy nước mưa trên mái và được đổ xuống tùy tiện. Nếu bố trí hệ thống thoát nước hợp lý thì sẽ khống chế được dòng chảy một cách hợp lý.
Hệ thống thoát nước trên mái sẽ làm cho nước mưa không đọng lại trên mái và không bị thấm dột vào trong nhà.

Nếu nước mưa ứ đọng trên mái sẽ gây ra ẩm mốc làm cho vật liệu kết cấu mái bị giảm độ bền vững, giảm tuổi thọ nhanh chóng.
Nước mưa đọng trên mái làm giảm tính thẩm mĩ của ngoại thất ngôi nhà.

Không có hệ thống thoát nước mưa trên mái nhà, rác cùng với nước mưa sẽ cùng bị ứ đọng, lâu ngày sinh ra mất vệ sinh và tạo điều kiện cho dịch bệnh sinh sôi, phát triển…
Hiện nay mục đích sử dụng mái rất đa dạng, đặc biệt là mái bằng có thể thiết kế sân thượng thành vườn cây, góc giải trí, góc làm việc, sân phơi…Nếu như không có hệ thống thoát nước sẽ gây cản trở và ảnh hưởng đến mục đích sử dụng của gia đình.

Các hệ thống kết cấu khung chịu lực

Trong xây dựng hệ thống kết cấu khung chụi lực cơ bản bao gồm:

1. Khung chịu lực không hoàn toàn (khung khuyết)

Trong các ngôi nhà, có bước gian tương đối rộng hay mặt bằng phân chia không gian không theo một quy cách nhất định, hệ thống kết cấu của nhà có thể làm hình thức khung không hoàn toàn để chia sàn và mái. Ngoài việc lợi dụng tường ngoài để chịu lực có thể dùng tường trong hoặc cột làm kết cấu chịu lực. Hình thức này mặt bằng bố trí tương đối linh hoạt, nhưng dùng nhiều bêtông và thép hơn so với tường chịu lực, liên kết giữa tường và dầm phức tạp. ở những nơi đất yếu dễ sinh ra hiện tượng tường và cột lún không đều, ảnh hưởng đến chất lượng công trình.

2. Khung chịu lực hoàn toàn (khung trọn)

Kết cấu chịu lực của nhà là dầm và cột, tường chỉ là kết cấu bao che, do đó tường có thể dùng vật liệu nhẹ, ổn định chủ yếu của nhà dựa vào khung.
Vật liệu làm khung thường làm bêtông cốt thép và thép hoặc bằng gỗ. Hình thức kết cấu này (trừ khung gỗ) ít dùng trong các nhà dân dụng bình thường vì tốn nhiều ximăng và thép, do đó chỉ nên dùng đối với nhà ở cao tầng hoặc nhà công cộng.

3. Hệ thống kết cấu không gian

Trong các nhà dân dụng có yêu cầu không gian lớn như rạp hát, rạp xiếc, nhà ăn, nhà thể thao có mái… ngoài các phương án kết cấu đã nêu trên ra, cũng có thể áp dụng quy luật và nguyên tắc tạo hình cấu trúc của các sinh thực vật theo phỏng sinh học kiến trúc như:
– Sườn không gian ba chiều: phỏng theo cấu trúc của đầu khớp xương động vật.
– Hình thức mặt xếp: phỏng theo cấu trúc của lá buông, lá dừa.
– Hình thức vỏ mỏng: phỏng theo cấu trúc vỏ trứng, vỏ sò, sọ động vật.
– Hình thức kết cấu dây căng: phỏng theo cấu trúc của mạng nhện.
Hệ thống kết cấu chịu lực không gian thi công và cấu tạo phức tạp.

Tóm lại, chọn các sơ đồ chịu lực của nhà dân dụng. Ngoài việc chú ý đến phương diện chịu lực, dễ dàng thi công và kinh tế. Về phương diện cấu tạo cần chú ý tường và mái phải có khả năng cách nhiệt và giữ nhiệt nhất định. Sàn gác và vách ngăn có khả năng cách âm cao. Hình thức cấu tạo đơn giản, các cấu kiện và vật liệu dùng rộng rãi, trọng lượng các cấu kiện không lớn quá, hợp với điều kiện thi công.

Tính công suất máy lạnh và đèn điện khi biết thể tích phòng

Máy lạnh 1 ngựa (1 Hp) = 9000 Btu cho phòng 36m³. => kích thước phòng vào khoảng rộng 3m x dài 4m x cao 3m

Máy lạnh 1,5 ngựa (1,5 Hp) = 12000 Btu cho phòng 54m³. => kích thước phòng vào khoảng rộng 5m x dài 4m x cao 3m

Máy lạnh 2 ngựa (2 Hp) = 18000 Btu cho phòng 72m³. => kích thước phòng vào khoảng rộng 5m x dài 5m x cao 3m

Chiều cao lắp đặt các thiết bị điện :

Cao độ chuẩn của công tắc là 1300 tính từ mặt sàn hoàn thiện đến mép đáy của mặt nạ công tắc.

Cao độ chuẩn của các ổ cắm thông thường là 300 tính từ mặt sàn hoàn thiện đến mép đáy của mặt nạ ổ cắm.

Cao độ chuẩn của các ổ cắm trên tủ đầu giường là 650 tính từ mặt sàn hoàn thiện đến mép đáy của mặt nạ ổ cắm. (Vì tủ đầu giường hay còn gọi là bàn đêm có cao độ khoảng từ 450-500).

Cao độ chuẩn của các ổ cắm trên bàn bếp là 1200 tính từ mặt bếp hoàn thiện đến mép đáy của mặt nạ ổ cắm. Bạn cũng có thể canh theo mép gạch men ốp tường cho dễ cắt gạch nhưng phải đủ cao hơn chiều cao nồi đặt trên bếp.

Công suất tiêu thụ giữa bóng đèn led – bóng đèn compact và bóng sợi đốt :

Từ khi bóng đèn led xuất hiện cho đến nay hầu như nhà nào cũng đều dùng nó thay thế cho bóng compact vì tiết kiệm điện hơn, nhưng ai cũng nghe truyền miệng chứ chưa biết nó tiết kiệm hơn bao nhiêu. Bảng so sánh công suất giữa các bóng đèn dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề này.

Đèn LED là từ viết tắt của Light Emitting Diode (đi ốt phát ra ánh sáng). Ánh sáng của đèn led được đo bằng thang đo nhiệt độ màu Kelvin (K) và được chia làm 3 mức độ như sau:

Nếu sữ dụng cho căn hộ, nhà ở và biệt thự gia đình thì chọn loại bóng led có ánh sáng màu trắng ấm với thông số nhiệt độ màu Kelvin dao động từ 2.700 K đến 3.500 K.

Nếu sữ dụng cho văn phòng, cửa hàng, phòng hội thảo thì chọn loại bóng led có ánh sáng màu trắng tự nhiên và trắng lạnh với thông số nhiệt độ màu Kelvin dao động từ 4.000 K đến 6.000 K.

Nếu sữ dụng cho nhà máy sản xuất cần độ sáng cao thì chọn loại bóng led có ánh sáng gần màu xanh với thông số nhiệt độ màu Kelvin dao động từ 6.000 K đến 8.000 K.